Có những dòng họ chỉ còn nhớ tên một cụ tổ gần, một ngôi mộ cổ ngoài đồng và câu chuyện “các cụ từ ngoài Bắc vào”. Cuốn gia phả chữ Hán từng có, rồi mất trong chiến tranh, trong một trận lụt, hoặc đơn giản là người cuối cùng đọc được nó đã đi xa. Con cháu muốn dựng lại mà không biết bắt đầu từ đâu.
Bài viết này là hướng dẫn thực hành để tìm lại gia phả dòng họ đã thất lạc: sáu nguồn tra cứu xếp theo thứ tự nên đi, cách đọc tư liệu chữ Hán Nôm, cách đối chiếu khi các nguồn nói khác nhau, và cách ghi lại phần chưa chắc để dựng phả đồ từ những gì đã có.
1. Vì sao gia phả dòng họ hay thất lạc?
Bốn lý do hay gặp. Chiến tranh và tản cư khiến nhiều họ mất bản gốc, nhất là các họ ở vùng từng là chiến sự. Gia phả viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, sau vài đời không còn ai đọc được nên bị cất kỹ rồi hỏng. Mối mọt, ẩm mốc và lụt làm hỏng giấy dó. Và phổ biến nhất: họ chia thành nhiều chi, mỗi chi giữ một phần, đến khi muốn ghép lại thì phần nào cũng thiếu.
Điều đáng mừng là gia phả mất nhưng dấu vết của dòng họ hiếm khi mất hết. Chúng nằm rải rác ở người còn sống, ở đá, ở đình làng và ở các kho lưu trữ. Việc tìm lại gia phả dòng họ là gom các dấu vết đó về một chỗ rồi nối chúng lại.
2. Tìm lại gia phả dòng họ bắt đầu từ đâu?
Trước khi đi hỏi ai, hãy lập một tờ “những gì đã biết chắc”: tên cụ tổ gần nhất mà cả họ đều nhớ, quê gốc theo lời truyền, ngày giỗ tổ đang cúng, vị trí nhà thờ và mộ cổ, tên các chi hiện nay, và những chuyện các cụ hay kể dù chưa kiểm chứng. Tờ này là điểm xuất phát của việc tìm lại gia phả dòng họ; mọi tư liệu tìm được sau đó đều đem đối chiếu với nó.
Nguyên tắc đi tìm là từ gần tới xa: từ người, tới giấy, tới đá, tới kho lưu trữ. Nguồn gần cho ít thông tin nhưng dễ kiểm, nguồn xa cho nhiều thông tin nhưng khó nối vào dòng mình. Sáu nguồn ở mục sau xếp theo đúng thứ tự ấy.
Nên cử hai người cùng làm: một người trong họ hiểu chuyện các cụ, một người trẻ chụp ảnh, ghi âm và gõ lại. Mọi thứ tìm được phải chụp ảnh ngay tại chỗ, ghi rõ ngày, nơi và người cung cấp, vì ba tháng sau sẽ không ai nhớ tấm ảnh đó chụp ở đâu.
3. Sáu nguồn tra cứu, xếp theo thứ tự nên đi
Sáu nguồn dưới đây là lộ trình tìm lại gia phả dòng họ mà nhiều họ đã đi, từ dễ tới khó. Không họ nào cần đi hết cả sáu; phần lớn nối được dòng mình sau ba hoặc bốn nguồn đầu.
3.1. Người cao tuổi trong họ và trong làng
Hỏi trước những người trên 70 tuổi, kể cả người của họ khác trong làng, vì họ nhớ các cụ nhà mình từ góc nhìn bên ngoài. Hỏi về tên húy, tên hiệu, chức tước, nghề, ngày giỗ, nơi chôn và chuyện chia chi. Ghi âm, sau đó gõ lại nguyên văn, chưa cần chỉnh. Người cao tuổi là nguồn dễ mất nhất, nên đi trước.
3.2. Gia phả các chi và gia phả họ bên ngoại
Chi khác thường giữ bản chép tay riêng, trong đó có phần đời trên chung với chi mình. Gia phả họ bên ngoại, họ của các bà dâu, ghi tên các cụ nhà mình khi chép chuyện hôn nhân; đây là nguồn ít người nghĩ tới nhưng nối được nhiều chỗ đứt. Xin chụp toàn bộ, kể cả trang bìa và trang ghi ngày chép, người chép.
3.3. Bia mộ, văn bia và câu đối ở nhà thờ
Mộ cổ có bia ghi tên húy, năm mất, đôi khi cả chức tước và người lập bia. Văn bia ở nhà thờ họ, bia hậu ở đình chùa ghi tên người cúng ruộng và năm cúng. Câu đối, hoành phi ghi tên hiệu và nơi phát tích của dòng họ. Chụp ảnh thẳng, có vật so kích thước, chụp cả mặt sau bia, và chụp lúc nắng xiên để chữ mòn nổi lên.
3.4. Đình làng, sắc phong, thần tích và hương ước
Nhiều cụ tổ được thờ làm hậu thần hoặc có tên trong sắc phong, thần tích của làng. Hương ước và sổ hương ẩm ghi tên các cụ có chức sắc trong làng theo từng năm. Địa bạ lập đầu thời Nguyễn ghi tên chủ ruộng từng xứ đồng, là chỗ tra được tên cụ tổ sống quanh các năm 1805 tới 1840 nếu họ có ruộng. Người giữ đình và ban khánh tiết của làng là người biết những tài liệu này đang ở đâu.
3.5. Ban liên lạc dòng họ và các họ cùng gốc
Nhiều họ lớn có ban liên lạc cấp tỉnh hoặc toàn quốc, đã gom gia phả của hàng chục dòng. Mang tờ “những gì đã biết chắc” tới hỏi, có khi tìm thấy một dòng khác chép cụ tổ nhà mình ở đời trên; nhiều họ đã tìm lại gia phả dòng họ nhờ đúng nguồn này. Cách tra chi phái của một họ lớn đã có trong bài nguồn gốc họ Nguyễn.
3.6. Trung tâm lưu trữ, viện nghiên cứu và thư viện
Khi các nguồn gần đã cạn, tới các kho lưu trữ. Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước quản lý các Trung tâm Lưu trữ quốc gia, nơi giữ châu bản, địa bạ và nhiều tài liệu Hán Nôm thời Nguyễn; Viện Nghiên cứu Hán Nôm giữ kho gia phả, thần tích, sắc phong sưu tầm từ các làng; thư viện tỉnh giữ địa chí và tư liệu địa phương. Thông tin về các trung tâm và cách đăng ký khai thác tài liệu có trên trang của Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước. Đi kho lưu trữ cần biết trước tên làng, tổng, huyện theo địa danh cũ, vì tài liệu xếp theo địa danh thời đó.

Sáu nguồn tra cứu, đi từ người tới giấy, tới đá, tới kho lưu trữ
4. Gia phả chữ Hán Nôm: nhờ ai đọc, đọc thế nào
Phần lớn gia phả cũ viết bằng chữ Hán, có xen chữ Nôm ở tên người và tên đất. Đừng tự đoán theo bản dịch máy. Chụp toàn bộ, đánh số trang, rồi nhờ người đọc được Hán Nôm: thầy đồ trong vùng, giảng viên Hán Nôm ở các trường đại học, hoặc dịch vụ dịch gia phả. Yêu cầu bản dịch có phiên âm Hán Việt đi kèm bản dịch nghĩa, và giữ nguyên tên húy theo phiên âm.
Vài chỗ dễ nhầm khi đọc: tên húy, tên tự, tên hiệu và tên thụy của cùng một người có thể xuất hiện ở bốn chỗ khác nhau; niên hiệu vua phải đổi sang năm dương lịch; chữ “tổ” trong gia phả có thể là tổ của chi chứ không phải thủy tổ cả họ. Khi tìm lại gia phả dòng họ từ bản Hán Nôm, nên ghi cả chữ gốc bên cạnh bản dịch để người sau kiểm lại được.
5. Đối chiếu khi các nguồn nói khác nhau
Chắc chắn sẽ có chỗ vênh: bia ghi năm mất khác lời kể, gia phả chi này chép cụ tổ có ba con, chi kia chép năm con. Ba nguyên tắc đối chiếu:
- Ưu tiên nguồn có niên đại. Bia, sắc phong, địa bạ có năm lập, được tin hơn lời kể và bản chép lại không ghi ngày.
- Nguồn độc lập nói giống nhau thì tin. Gia phả họ ngoại và bia mộ cùng ghi một tên là chỗ chắc; hai bản chép từ cùng một gốc thì chỉ tính một.
- Không ép cho khớp. Chỗ nào vênh thì ghi cả hai cách và ghi nguồn, không chọn một cách chỉ vì nó đẹp hơn.

Xếp mức tin cậy cho từng chi tiết trước khi đưa vào gia phả
Cách trình bày phần nguồn gốc, các mốc và chỗ còn tồn nghi thành một bài văn có trong bài phả ký là gì, cách viết phả ký. Phả ký viết kỹ là nơi ghi lại toàn bộ hành trình tìm lại gia phả dòng họ, để đời sau biết cái gì chắc, cái gì còn để ngỏ, và không phải đi tìm lại từ đầu.
6. Ghi lại phần chưa chắc và dựng phả đồ từ những gì đã có
Đừng chờ tìm đủ mới dựng. Với phần lớn các họ, tìm lại gia phả dòng họ không kết thúc bằng một cuốn sách hoàn chỉnh mà bằng một phả đồ có chỗ chắc, chỗ tồn nghi. Dựng phả đồ ngay từ cụ tổ gần nhất mà cả họ nhớ chắc, đánh số đời từ đó; các đời trên tìm được tới đâu nối lên tới đó, đánh dấu rõ “tồn nghi” ở những chỗ chưa chắc. Cách xác định thủy tổ, đời đầu và thu thập thành viên có trong bài cách lập gia phả dòng họ.
Trên phả đồ trực tuyến, việc này tiện ở chỗ: ảnh bia, ảnh trang gia phả cũ, bản dịch và ghi chú nguồn đính kèm ngay hồ sơ từng người; chi nào tìm thêm được gì thì quản trị viên của chi đó bổ sung; cả họ cùng thấy chỗ nào còn trống để ai biết thì góp. Phả đồ nên đặt riêng tư, chỉ những ai có mã bảo mật mới xem được phả đồ, vì tư liệu đang gom có tên và địa chỉ của người đang sống.
Đang gom tư liệu để tìm lại gia phả dòng họ? Dựng phả đồ trực tuyến ngay từ phần đã chắc, các chi góp thêm dần. Tư vấn: 0965.323.336.
Cuối cùng, tìm lại gia phả dòng họ là việc của nhiều năm và nhiều người, không phải của một chuyến đi. Mỗi năm gom thêm được vài cái tên, vài tấm bia, là dòng họ đã dày thêm một chút. Toàn bộ thao tác dựng và chia sẻ phả đồ có trong trang hướng dẫn sử dụng Gia Phả Đại Việt.
Các nguồn tra cứu trong bài là kinh nghiệm chung của nhiều dòng họ; việc tiếp cận tài liệu ở các kho lưu trữ tùy quy định của từng nơi. Bài viết mang tính tham khảo, khi dựng gia phả đề nghị ghi rõ nguồn của từng chi tiết.
