Nguồn Gốc Họ Lê: Hai Triều Đại Và Các Dòng Họ Lê Lớn

nguồn gốc họ Lê

Trong ba họ đông nhất Việt Nam, họ Lê là họ có tới hai triều đại mang tên mình: Tiền Lê ở thế kỷ 10 và Hậu Lê kéo dài hơn ba trăm năm. Cũng vì thế mà nhiều người mang họ Lê tin rằng dòng mình gốc từ vua, trong khi nhiều dòng họ Lê khác lại biết chắc tổ tiên mình vốn mang họ khác, được ban họ Lê thời Lê sơ.

Bài viết này lần theo nguồn gốc họ Lê từ chữ Lê và các thuyết về thủy tổ, qua hai triều đại, tới lý do họ Lê đông thứ ba cả nước, các dòng có tư liệu rõ, tục giỗ tổ, và cách con cháu họ Lê tra lại gia phả dòng mình. Bài nối tiếp hai bài về họ Nguyễn và họ Trần đã đăng.

1. Nguồn gốc họ Lê từ đâu?

Chữ Lê viết theo Hán tự là 黎, cùng chữ với họ Lê ở miền nam Trung Quốc, và cần phân biệt với họ Lý (李), hai họ hay bị viết lẫn khi chuyển sang chữ Latinh. Về gốc chữ, cũng như phần lớn họ của người Việt, chữ Lê du nhập theo dòng chữ Hán rồi trở thành họ của người bản địa. Giả thuyết cụ thể hơn về nguồn gốc họ Lê ở Việt Nam hiện có ba lớp:

  • Lớp truyền thuyết. Ban liên lạc họ Lê Việt Nam và một số dòng họ tôn Thục Phán An Dương Vương làm thủy tổ, dựa vào thần tích và sách vở đời sau. Đây là tín ngưỡng của dòng họ, giới sử học chưa có bằng chứng để xác nhận.
  • Lớp sử liệu thế kỷ 10. Dòng Lê được sử chép sớm và rõ là dòng của Lê Hoàn, người lên ngôi năm 980 lập nhà Tiền Lê, đóng đô ở Hoa Lư. Quê gốc của ông còn tranh cãi giữa Thanh Hóa, Ninh Bình và Hà Nam, nơi nào cũng có đền thờ.
  • Lớp sử liệu thế kỷ 15. Dòng Lê ở Lam Sơn, Thanh Hóa, nhiều đời làm phụ đạo trong vùng, tới Lê Lợi thì khởi nghĩa và lập nhà Hậu Lê năm 1428. Gia phả dòng này được chép kỹ, thế phả tính từ các cụ Lê Hối, Lê Khoáng trở xuống.

Bạn có thể xem thêm bài Lê (họ) trên Wikipedia tiếng Việt để đối chiếu các thuyết về chữ Lê ở Trung Quốc và Việt Nam.

2. Họ Lê đông thứ mấy ở Việt Nam?

Nói tới nguồn gốc họ Lê, câu hỏi hay gặp thứ hai là họ Lê đông thứ mấy. Lê thường được xếp thứ ba, sau Nguyễn và Trần. Con số hay được dẫn là khoảng 9 tới 10 phần trăm dân số, theo thống kê năm 2005 trong sách “Họ và tên người Việt Nam” của Lê Trung Hoa; ban liên lạc họ Lê ước tính cao hơn, tới khoảng 15 phần trăm. Cũng như với bài nguồn gốc họ Nguyễn, đây là ước lượng, vì tổng điều tra dân số không công bố số liệu theo họ.

Về phân bố, họ Lê dày đặc ở Thanh Hóa, quê của cả hai triều đại, rồi Nghệ An, Hà Tĩnh, đồng bằng sông Hồng, và theo các đợt Nam tiến mà có mặt khắp Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Thanh Hóa được nhiều dòng Lê ở các tỉnh khác ghi trong gia phả là quê gốc, tương tự cách các dòng Trần ghi “từ Thiên Trường vào”.

3. Vì sao họ Lê đông và có mặt khắp nơi?

Với họ Nguyễn, lý do đông là những đợt đổi họ theo biến động triều đại; với họ Trần là một triều đại dài gieo nhánh khắp nước. Nguồn gốc họ Lê đông có cả hai lý do đó cộng lại, và thêm một lý do riêng.

  • Hai triều đại, gần bốn trăm năm. Tiền Lê từ 980 tới 1009, Hậu Lê từ 1428 tới 1789 tính cả thời Lê trung hưng. Hoàng tộc được phong đất và chức tước ở nhiều vùng, mỗi nơi để lại một nhánh.
  • Ban quốc tính họ Lê. Sau khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Thái Tổ ban họ Lê cho hàng chục công thần: Nguyễn Trãi thành Lê Trãi, Nguyễn Xí thành Lê Xí, Trịnh Khả thành Lê Khả, Đinh Liệt thành Lê Liệt. Nhiều dòng sau này trở lại họ gốc, nhưng không ít dòng giữ họ Lê tới nay, nên khi tra nguồn gốc họ Lê của một dòng, phải tính tới khả năng tổ tiên vốn là họ Nguyễn, Trịnh, Đinh hay Phạm.
  • Tản đi sau năm 1527. Khi Mạc Đăng Dung thay nhà Lê, con cháu họ Lê và các công thần rời Thăng Long và vùng đồng bằng về Thanh Hóa, Nghệ An, rồi từ đó phát tán. Gia phả nhiều dòng Lê ở Nghệ Tĩnh chép cụ tổ về vùng đất mới trong khoảng này.
  • Nam tiến. Từ thế kỷ 17 tới 19, người họ Lê theo các đợt khai khẩn vào Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Nam Bộ. Dòng của Lê Văn Duyệt, gốc Quảng Ngãi, sinh ở Định Tường, là một ví dụ được sử chép rõ.

Cộng lại, họ Lê đông vì vừa có hoàng tộc tỏa ra, vừa có nhiều họ khác nhập vào, và cả hai lớp đều đã trải qua nhiều đợt di cư.

4. Các mốc lớn của họ Lê trong lịch sử

Bảng dưới gom các mốc gắn với nguồn gốc họ Lê và hai triều đại, để bạn đối chiếu khi đọc gia phả nhà mình:

Năm Sự kiện Ý nghĩa với dòng họ
980 Lê Hoàn lên ngôi, lập nhà Tiền Lê ở Hoa Lư Dòng Lê đầu tiên được sử chép liên tục
981 Đánh thắng quân Tống ở Bạch Đằng và Chi Lăng Lê Đại Hành được thờ ở Hoa Lư và nhiều làng
1009 Nhà Tiền Lê kết thúc, nhà Lý lên thay Con cháu Tiền Lê tản về các vùng quanh Hoa Lư
1418 Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn Mở đầu mười năm kháng Minh, Lê Lai liều mình cứu chúa
1428 Lê Lợi lên ngôi, lập nhà Hậu Lê Ban quốc tính họ Lê cho nhiều công thần
1460-1497 Lê Thánh Tông trị vì, ban hành luật Hồng Đức Thời thịnh trị của nhà Lê sơ, hoàng tộc mở rộng
1527 Mạc Đăng Dung phế vua Lê, lập nhà Mạc Các nhánh họ Lê tản khỏi đồng bằng về Thanh Nghệ
1533-1789 Nhà Lê trung hưng, vua Lê chúa Trịnh Các vua thuộc dòng Lê Trừ, anh của Lê Lợi; kết thúc năm 1789

Nguồn gốc họ Lê qua các mốc lớn từ nhà Tiền Lê tới nhà Lê trung hưng

Các mốc lớn của họ Lê, từ Hoa Lư thế kỷ 10 tới hết thời Lê trung hưng

5. Những dòng họ Lê có tư liệu rõ ràng

Nguồn gốc họ Lê không dồn về một cây phả hệ chung được, vì họ quá đông và có nhiều họ khác nhập vào. Dưới đây là vài dòng được nhắc tới nhiều trong tài liệu công khai:

Dòng Vùng gắn liền Di tích và nhân vật
Lê Lam Sơn Thọ Xuân, Thanh Hóa Khu di tích Lam Kinh, lăng Lê Thái Tổ, lễ hội ngày 21 và 22 tháng Tám âm lịch
Lê Hoa Lư Trường Yên, Ninh Bình Đền thờ vua Lê Đại Hành trong cố đô Hoa Lư, lễ hội Trường Yên tháng Ba âm lịch
Lê Đông Sơn Đông Sơn, Thanh Hóa Lê Văn Hưu, sử gia đời Trần, người soạn Đại Việt sử ký
Lê Diên Hà Hưng Hà, Thái Bình Lê Quý Đôn, nhà bác học thế kỷ 18, khu lưu niệm tại quê
Lê Định Tường Tiền Giang, gốc Quảng Ngãi Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định, Lăng Ông ở Bà Chiểu

Nguồn gốc họ Lê: những dòng có tư liệu rõ và di tích gắn liền

Năm dòng họ Lê có tư liệu rõ và nơi thờ tự gắn liền, chỉ là vài dòng trong hàng nghìn dòng

Danh sách trên chỉ là vài dòng tiêu biểu. Cần nói thẳng như đã nói với họ Nguyễn và họ Trần: mang họ Lê không đồng nghĩa có quan hệ huyết thống với các vua Lê, và với họ Lê còn thêm một khả năng nữa: dòng mình có thể là họ khác được ban họ Lê. Chỉ gia phả của chính dòng họ bạn mới trả lời được.

Dòng họ bạn chép “cụ tổ từ Thanh Hóa ra” hay “được ban họ Lê” mà chưa ai lần lại được? Dựng phả đồ trực tuyến để các chi ở xa cùng góp tư liệu là cách nhiều họ Lê đang làm. Tư vấn: 0965.323.336.

6. Nhà thờ họ Lê và tục giỗ tổ

Người họ Lê giỗ tổ theo từng dòng, tại nhà thờ riêng, vào ngày mất của vị tổ lập ra dòng ở vùng đất hiện nay. Bên cạnh đó có hai ngày lễ chung mà con cháu nhiều dòng cùng hướng về: lễ hội Lam Kinh ở Thọ Xuân ngày 21 và 22 tháng Tám âm lịch, gắn với câu “hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”, và lễ hội Trường Yên ở Hoa Lư vào tháng Ba âm lịch tưởng nhớ Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Thái miếu nhà Hậu Lê ở Đông Vệ, Thanh Hóa, là nơi thờ chung các vua và hoàng hậu nhà Lê.

Khi tra lại nguồn gốc họ Lê của dòng mình, ngày giỗ tổ của dòng và ngày giỗ các vua là hai việc khác nhau, giống điều đã nói ở bài nguồn gốc họ Trần. Nếu dòng họ bạn đang bàn việc dựng hoặc sửa từ đường, bài nhà thờ họ là gì, ý nghĩa và cách xây dựng có các bước chuẩn bị.

7. Con cháu họ Lê tra lại gia phả dòng mình thế nào?

Muốn biết nguồn gốc họ Lê của riêng dòng mình, có ba câu hỏi nên trả lời trước: dòng mình gốc Lê hay được ban họ Lê; cụ tổ về vùng đất hiện nay khoảng thời nào, trước hay sau năm 1527; và gia phả các chi còn giữ được tới đời nào.

  1. Bắt đầu từ gia phả các chi và lời kể người cao tuổi, ghi tên cụ tổ, quê gốc mà các cụ hay nhắc, chữ lót lặp qua nhiều đời, ngày giỗ tổ đang cúng.
  2. Để ý dấu vết ban quốc tính. Gia phả có chữ “quốc tính”, có ghi cụ tổ “vốn họ Nguyễn” hay “được ban họ”, hoặc giỗ tổ trùng với một công thần Lam Sơn, là dấu hiệu dòng mình thuộc lớp nhập vào.
  3. Đọc bia mộ, văn bia nhà thờ và sắc phong nếu còn; nhiều dòng Lê ở Thanh Nghệ có sắc phong thời Lê trung hưng và thời Nguyễn ghi rõ tên húy.
  4. Đối chiếu với ban liên lạc họ Lê ở tỉnh và toàn quốc, nơi đã gom gia phả nhiều dòng; hai dòng tưởng xa lạ có khi chung một cụ tổ cách vài đời.
  5. Ghi lại phần chưa chắc là chưa chắc. Đừng nối dòng mình vào một vị vua chỉ vì trùng họ và trùng vùng. Cách đi tìm khi gia phả đã mất có trong bài tìm lại gia phả dòng họ thất lạc.

Gom được tới đâu nên ghi lại tới đó, kể cả khi nguồn gốc họ Lê của dòng mình mới lần được vài đời. Cách bền là dựng phả đồ trực tuyến để các chi cùng bổ sung, thay vì một người chép rồi cất đi. Toàn bộ thao tác dựng phả đồ có trong trang hướng dẫn sử dụng Gia Phả Đại Việt.

Gia Phả Đại Việt Online - phần mềm quản lý gia phả trực tuyến, Hotline/Zalo 0965.323.336

Các mốc lịch sử trong bài dựa theo sử sách và tài liệu nghiên cứu đã công bố. Thuyết thủy tổ Thục Phán, tỷ lệ dân số họ Lê và nhiều chi tiết về các dòng vẫn còn được thảo luận, nội dung bài mang tính tham khảo. Khi lập gia phả, đề nghị đối chiếu với gia phả gốc và tư liệu riêng của dòng họ mình.